Mến gửi các Tân chức (03.12) bài của Karl Rahner, S.J.
Ngài “Viết cho lễ tạ ơn của một tân linh mục”
Dịch từ tiếng Đức: Karl Rahner, Die Gnade wird es vollenden,
Verlag Ars Sacra, München, 1957.
Với tư cách là đoàn dân của
những kẻ được cứu độ, chúng ta dâng hy lễ Giao Ước mới trên bàn thờ của Giáo Hội,
trong Đức Giê-su Ki-tô. Và vào một ngày sẽ đến, chúng ta sẽ không còn làm những
điều mà chúng ta đã vẫn thường làm nữa. Vì vào ngày ấy, một điều tối cao sẽ diễn
ra và không thể có điều gì cao hơn được nữa: Người sẽ ngự giữa chúng ta, Đức
Chúa Chủ tể thời gian, Trái Tim của trần thế, cùng với tất cả những gì Người đã
thi ân vì yêu thương, những điều có thể lay động cả trăng sao, để đưa tất cả
vào trong vinh quang của Thiên Chúa. Tuy nhiên, cũng có một ngày mang hy lễ tạ
ơn vĩnh cửu theo kiểu như thế. Đó là thánh lễ đầu tiên của một tân linh mục.
Chúng ta cử hành giây phút mà một con người, được thánh hiến trở nên linh mục của
Đức Giê-su Ki-tô, lần đầu tiên thực thi điều mà vị ấy sẽ còn làm mãi trong cái
đơn điệu nhưng cao cả và thần thiêng suốt từng ngày trong quãng đời còn lại,
cho đến một lúc cả cuộc đời ấy sẽ được thiêu đốt hoàn toàn trong Hy Lễ duy nhất,
Hy Lễ mà vị linh mục vẫn hàng ngày cử hành, và chỉ trong Hy Lễ ấy mà mọi thực tại
trần thế mới tìm thấy điểm đến của mình, trong uy linh Thiên Chúa.
Tại sao chúng ta phải họp
mừng một ngày như thế? Có phải Giáo Hội thực sự muốn làm đạo diễn để dân Chúa
trao vòng nguyệt quế trước cho những người trẻ thật ra đến lúc này vẫn chưa làm
được gì, như thể họ là những kẻ đã dâng cho Chúa trọn cuộc sống và con tim,
trong khi điều tiên vàn là phải ngợi ca Hy Tế cao cả, Hy Tế đã một lần hiến
dâng và đã hoàn tất?
Không, chúng ta không ngợi
mừng một con người nào. Đúng hơn chúng ta vui mừng cử hành chức linh mục của Đức
Giê-su Ki-tô. Chúng ta cử hành mầu nhiệm Giáo Hội, toàn thể Giáo Hội của những
kẻ được cứu độ, được hiến thánh và được kêu gọi đi vào cuộc sống vĩnh cửu.
Chúng ta vui mừng cử hành những điều ấy, những điều thuộc về tất cả chúng ta,
dù chúng ta có là linh mục hay chỉ là tín hữu hoặc những tâm hồn được mời gọi sống
thánh thiện. Vì tất cả chúng ta thuộc trọn thân thể của Đức Ki-tô, theo cách mà
chúng ta được chung phần trong ân sủng, danh dự và quyền năng, theo cách mà
chúng ta được thi ân và củng cố, theo cách mà nhờ tác vụ và ơn gọi của một người
mà sự thánh thiện của tất cả được tỏ lộ.
Linh mục là ai? – Là một con người
Trong thư gửi tín hữu Do
Thái, khi nói về vị tư tế, Thánh Phao-lô muốn nói tiên vàn tư tế là người được
chọn giữa muôn phàm nhân. Thậm chí chính vị thượng tế muôn thuở là Đức Giê-su
Ki-tô, sinh ra bởi cung lòng một người phụ nữ, sống dưới Lề Luật, lữ hành qua
thung lũng của sự hư mất, đã muốn là một con người, phải, một con người với tất
cả những yếu tố thuộc về con người, như chúng ta. Linh mục là một con người. Vị
ấy cũng được đục đẽo bởi cùng một chất liệu như tất cả chúng ta. Vị ấy là anh
em của chúng ta. Vị ấy cũng sẽ tiếp tục mang lấy thân phận con người, ngay cả
sau khi quyền năng của Thiên Chúa được ghi khắc vào, nhờ qua đôi tay của vị
giám mục. Đó là phần số của những kẻ yếu ớt, của kẻ phải lao nhọc, của kẻ còn
chưa đáng tin hoàn toàn, và phần số của tội nhân. Nhưng người ta sẽ coi đó là
điều đáng than phiền, khi ai đó thực thi một trách nhiệm được Thiên Chúa trao
phó, mà vẫn còn là phàm nhân. Đúng hơn, họ muốn nhìn thấy nơi các linh mục những
sứ giả xuất chúng, đầy sức thuyết phục, những trái tim bốc lửa. Họ phấn khởi
chào đón những kẻ bách chiến bách thắng, lúc nào cũng có câu trả lời cho mọi vấn
đề và luôn luôn có mọi phương tiện trợ giúp họ. Ôi, một vinh dự não nề!
Nhưng được sai đến với họ
lại là những con người yếu đuối, đi trong sợ hãi và run rẩy. Những kẻ phải
không ngừng khẩn thiết cầu xin: Lạy Chúa, con tin, nhưng xin trợ giúp đức tin yếu
đuối của con! Những kẻ không ngừng đấm ngực: Lạy Chúa, xin tỏ lòng thương xót
và thi ân cho con! Nhưng cũng chính họ là những người rao truyền một đức tin lướt
thắng thế gian, mang ân sủng thánh hóa và cứu chuộc đến những kẻ hư mất và tội
lỗi. Những người như thế lại được sai đi. Họ đến và nói trong thân phận con người
bé mọn của họ: hãy nhìn những người được Chúa thương xót như chúng tôi đây.
Ngôi sao ân sủng đã rọi xuống những kẻ nghèo hèn, khờ dại, hay hoài nghi và lụy
tử này. Họ nói trong tư cách những sứ giả phàm trần của Đức Chúa vĩnh cửu: đừng
nổi cáu với chúng tôi! Chúng tôi biết chúng tôi mang trong mình kho tàng của
Thiên Chúa như trong những bình sành. Chúng tôi biết những tăm tối của đời
chúng tôi sẽ làm lu mờ ánh vinh quang Thiên Chúa, – ánh sáng mà chúng tôi lẽ ra
phải trao cho anh chị em cách trọn vẹn. Hãy nhân từ với chúng tôi, đừng phán
xét, hãy đồng cảm với những kẻ bất lực này, những kẻ Chúa đã chất nặng trên vai
ân sủng của Người. Hãy đón nhận những điều ấy như sự tự tha thứ cho mình, vì thảy
chúng ta đều là người phàm. Xin hãy nhớ lại, Thiên Chúa không muốn điều tàn bạo
đối với con người. Rồi chính anh chị em sẽ có kinh nghiệm về sợ hãi và khiếp đảm
khi anh chị em có kinh nghiệm về nhân loại và những gì thuộc về đời người. Hạnh
phúc cho anh chị em, những người còn nhìn thấy lốt phàm nhân trong bóng dáng
linh mục mà không nổi giận. Họ là con người, và như thế, để anh chị em tin rằng
Thiên Chúa vẫn luôn muốn thông chia ân sủng Người cho mọi phàm nhân.
Linh mục là sứ giả của Chân lý Thiên Chúa
Chân lý Thiên Chúa là điều
gì đó vừa thánh thiêng vừa lạ thường. Chân lý ấy rất đơn giản và không tiến
nhanh như chân lý con người, thứ chân lý thông minh đến nỗi cuối cùng đã đem đến
bom nguyên tử. Chân lý của Thiên Chúa thấm vào con người, yên ắng đến nỗi có
khi không thể nhận ra. Chân lý ấy chỉ được mường tượng như những mẫu vụn nhỏ
nhoi, ví dụ như một thoáng chốc khiêm hạ kín đáo trong tim, một nỗi khát khao
vô danh của tâm hồn, với thái độ phó thác mà ai đó lặng lẽ chấp nhận sự long đong
không giải thích nỗi của đời mình. Nhưng dù cho nhập tâm cách lặng thầm, trong
sức mạnh của Thần Khí Thiên Chúa, những chân lý ấy thực sự hiện hữu và từ nó nảy
sinh tình yêu và cuộc sống vĩnh hằng. Bằng những chân lý xem ra rất thô mộc
ấy, Thiên Chúa tự bày tỏ chính mình trong cõi sâu thẳm nhất của trái tim con
người. Những chân lý ấy cũng đồng thời hiện diện trong thế giới, vì chúng tuôn
trào từ thánh tâm bị đâm thủng của Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa. Vì thế, chân lý ấy
muốn nhập thể trong lời nhân loại. Chân lý ấy muốn đi vào mọi ngõ ngách suy tư
và phát biểu thành lời của con người, trở thành âm giai chủ đạo trong bản giao
hưởng bất tận, vọng vang khắp cõi vũ trụ. Chân lý ấy muốn được phát biểu và
loan truyền, muốn đi vào tai và vào tim của con người. Từ tâm khảm phàm nhân,
chân lý ấy muốn vươn ra và vươn cao để đột nhập vào mọi cảnh vực sống của nhân
loại, muốn được rao giảng trên mọi nóc nhà. Chân lý ấy phán xử và thanh tẩy, cứu
độ và kiện toàn. Chân lý ấy muốn mình gắn kết với mọi chân lý trần gian. Đó là
lý do tại sao lại cần có những sứ giả cho chân lý giống như vậy, những vị sứ giả
phàm nhân. Họ ra đi với hành trang là lời người phàm, nhưng lời ấy sẽ được đong
đầy bằng chân lý Thiên Chúa. Họ nói những điều xưa cũ, nhưng thực ra người ta vẫn
còn chưa hiểu hết. Họ nói về một chân lý không tàn lụi, không lỗi thời, không mất
giá trị. Họ nói về Thiên Chúa: Thiên Chúa của vinh quang và đời sống vĩnh cửu.
Thiên Chúa là cuộc sống của con người chúng ta. Họ nói với chúng ta rằng cái chết
không là tận điểm, rằng khôn ngoan của thế gian chỉ là một thứ điên rồ và chóng
qua, rằng có một cuộc phán xét, một mối công bằng và sự sống vĩnh cửu sẽ đến. Họ
nói đi nói lại ngàn lần chỉ những điều ấy. Họ nói điều ấy cho họ và cho những
người khác, rồi cả họ và những người khác đều đồng ý với nhau rằng họ vẫn chưa
hiểu hết những điều đã được rao giảng: rằng Thiên Chúa hằng sống, chân thật,
Thiên Chúa mạc khải, Cha của Đức Giê-su Ki-tô, đã chấp nhận hòa tan Người trong
cõi lòng con người, mà không cần chúng ta nhận ra. Người đã biến sự hư nát âm
ty của ta thành khởi điểm cho cuộc sống vĩnh tồn. Nhưng chúng ta không muốn tin
điều đó.
Những vị sứ giả rao giảng
điều ấy, những điều họ đã học tập và cầu nguyện, để những điều ấy có thể đi vào
trong tâm trí cỏn con và tâm hồn chật chội của họ, những điều mà chính họ cố
công gắn bó, đôi đi còn chưa cảm thấy được thuyết phục hẳn. Vì thế nên họ đâu
có thành toàn. Họ sẽ luôn mãi là „tập sinh“ của Chúa. Nhưng họ vẫn lên đường
rao giảng về vị Thiên Chúa mà họ chỉ hiểu dở dang.
Và họ đã bắt đầu như thế.
Họ ngọng ngịu, lảo đảo. Họ biết rằng những điều họ phải dọn lòng, dọn trí để
rao giảng trên môi miệng con người của họ sẽ trở nên kỳ cục và khó tin. Nhưng họ
vẫn đi và cứ nói. Và kỳ diệu thay, trên con đường ấy, họ vẫn nhận ra có những
người nghe được, qua lời phàm nhân của họ, tiếng của Thiên Chúa. Lời Chúa đi
vào trong trái tim của những người ấy, phân xử, cứu độ, thánh hóa và ủi an, củng
cố kẻ đuối sức, cho dù những vị sứ giả của Lời ấy có giảng không hay, dọn bài
chưa kỹ. Vì Thiên Chúa ở bên họ, bất chấp thái độ hay càm ràm và bản chất tội lỗi
của họ. Họ không rao giảng chính mình, nhưng rao giảng Đức Giê-su Ki-tô và nhân
danh Người họ đi rao giảng. Họ xấu hổ đến tận đáy lòng, điều Thầy Giê-su đã nói
với họ: „Ai lắng nghe anh em là nghe chính Thầy, ai ruồng bỏ anh em là ruồng bỏ
chính Thầy.“ Chính họ cũng lặp lại điều ấy. Và thế là họ lên đường rao giảng. Họ
biết rằng họ cũng có nguy cơ trở thành „thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang
xoảng“ và rơi vào hư mất, nếu họ rao truyền về ai hay điều gì khác.
Nhưng họ không phải là người
tự mình ra đi. Họ được kêu gọi và sai đi. Và vì thế họ phải đi và phải nói. Ai
thương thì nhờ, ai ghét thì chịu. Họ đi vào cánh đồng thế giới và gieo hạt giống
lời Chúa. Họ vui mừng tạ ơn, cả khi hoa trái của chúng còn rất khiêm tốn. Họ quỳ
xuống khẩn xin lòng thương xót của Chúa, đừng vì tội lỗi và yếu đuối của chính
họ mà có quá nhiều hạt giống chết khô. Họ gieo trong nước mắt và có khi người
khác sẽ gặt những điều họ đã gieo. Nhưng họ xác tín rằng: lời Chúa phải được
mau chóng gieo vãi và trổ sinh, vì chúng chứa đựng chân lý hồng phúc của Người,
là ánh sáng cho mọi con tim, là ủi an những kẻ sắp từ giã cõi trần và là hy vọng
cho cuộc sống trường cửu.
Linh mục là người thông chia mầu nhiệm Thiên Chúa
Lời mà Thiên Chúa đặt vào
môi miệng vị linh mục không chỉ là một ngôn ngữ chung chung, cất lên rồi bay
vào mông lung. Đó là lời Chúa, và vì thế lời ấy phải đụng chạm đến từng con người,
trong cá nhân tính và lịch sử bất khả tái hồi của đời họ. Lời ấy cần được đồng
hành với từng người: vào buổi sáng đầu một ngày sống, khi họ bắt đầu hành trình
vĩnh cửu trong thời gian. Lời ấy đi với họ trong từng sinh hoạt thường nhật
trong đời lữ thứ, băng qua những thung lũng và những cạm bẫy trên con đường hiện
sinh nhọc nhằn, trong cơn hoài nghi cay đắng của kẻ tội lỗi, và trong khoảnh khắc
thánh thiêng cuối cùng, lúc mà hoa trái của vĩnh cửu ập đến với ai đó, người
đang dần dần cảm thấy thời của kẻ phải chết đang được hoàn tất. Trong tất cả những
khoảnh khắc của nhân sinh, vị linh mục cần hiện diện để trao ban lời Chúa, lời
sức mạnh và sáng tạo. Lời ấy không chỉ là thoại ngôn, mà là tác ngôn, lời mang
chiều kích bí tích: Cha rửa con, cha tha tội cho con, này là mình Thầy… Những lời
ấy được cất lên trong ngôi vị Đức Ki-tô và vị linh mục truyền đạt nó trong những
hoàn cảnh sống khác nhau của tín hữu. Những lời được cất lên và có sức tác động,
vì đó là lời Chúa. Khi nói những lời bí tích ấy, vị linh mục vừa trở nên kẻ
hoàn toàn bất lực vừa là người toàn quyền, vì linh mục không còn là gì đối với
lời của riêng mình và hoàn toàn trở nên lời của Đức Ki-tô. Và linh mục được
phép ban lời, lặp đi lặp lại nhiều lần, trong kiên nhẫn, kính tin, nhiệt tình.
Tất cả những lời khác, lời trong bài giảng hay huấn giáo, chỉ như là những tiếng
vọng, những phân tích, chú giải. Những lời này được gắn thêm vào Lời nền tảng
trong hiện hữu của vị linh mục, những lời linh mục nói trong khi cử hành bí
tích, được đi kèm với các cử chỉ thiêng thánh và sử dụng những chất liệu khiêm
tốn của tự nhiên. Linh mục thi hành những điều ấy để mong chuyển tải được sự
thánh thiêng của trời cao và làm cho nó trổ sinh trong lời của Đức Ki-tô.
Được ân sủng hóa bởi lời của
Đức Ki-tô, vị linh mục thông chia những mầu nhiệm Đức Ki-tô,- các Bí Tích. Người
ta thường chờ đợi nhiều điều khác từ linh mục: thực phẩm, giải pháp cho những vấn
đề xã hội, những công thức làm cho người ta hạnh phúc ở đời này. Họ sẽ bực dọc
và ngán ngẩm khi họ chỉ nghe nhai đi nhai lại những lời mà họ phải tin, những lời
chỉ có giá trị tác động ở cõi mai sau mà thôi, những lời mà giá trị của chúng
có khi chẳng thấm tháp gì khi đem ra giữa chợ đời. Dẫu vậy, linh mục tiếp tục
trao ban lời của các bí tích. Những gì bí tích thực sự ghi dấu ấn không thể kiểm
chứng trong các phòng thí nghiệm, nhưng sẽ tác sinh thực sự đối với người thụ
nhận. Và nhờ tác động của lời ấy mà vận mệnh của con cái Thiên Chúa được khai mở.
Vận mệnh của kẻ được tha thứ lỗi lầm, của kẻ được cử hành bữa tiệc cuộc sống
vĩnh cửu, của kẻ trong đáy của bóng đêm tiếp nhận được nguồn sáng không bao giờ
tắt. Với hành trang là các bí tích của Thiên Chúa, vị linh mục, như một kẻ tha
phương, đứng trên mọi giao lộ của thế giới, mà trên đó dòng nhân sinh và lịch sử
trôi qua, hấp tấp và chẳng buồn tự hỏi mình vội vã vì điều gì, kể cả chuyện tử
sinh. Người nào biết dừng lại, đón nhận món quà từ tay của linh mục, – kẻ lãng
du giữa hai thế giới ấy -, đón nhận những mầu nhiệm Thiên Chúa, thì nơi người ấy
vĩnh cửu sẽ được tỏ lộ trong thời gian, sự sống phát sinh từ cái chết, ánh sáng
và sự hiện diện của Thiên Chúa trỗi lên từ bóng đêm. Và người được ủy quyền để
nói, trong tất cả những cảnh huống đơn nhất của đời người, những lời giúp nhận
ra sự hiện diện và tác động của Thiên Chúa trong lòng Giáo Hội thánh thiện, sẽ
được gọi là linh mục.
Linh mục được ủy thác dâng lễ tế
Cho tới giờ chúng ta chỉ
mô tả những lao tác của vị linh mục trong thế giới. Chúng ta cũng nên đi thẳng
vào chính mầu nhiệm đóng vai trò trung tâm của thân thể Giáo Hội, theo mức độ
mà mầu nhiệm ấy được ví như nhịp tim đẩy đưa máu nuôi một thân thể. Linh mục là
người được Giáo Hội ủy thác dâng lễ, tái diễn lại bữa Tiệc Ly của Đức Ki-tô. Điều
này cũng chính là bản chất sâu thẳm nhất và tối hậu của đời linh mục. Thế nên
chúng ta không bắt đầu cử hành tác vụ linh mục của một ai đó bằng bí tích thanh
tẩy hay hòa giải, cho bằng lần đầu tiên ấy, tân linh mục, cùng với chúng ta,
dâng lễ tế trên bàn thờ. Mọi thành phần đều được quy tụ trong giây phút mở đầu ấy:
con người, Giáo Hội, Thiên Chúa, Đức Ki-tô, hy tế thập giá, những người đang sống
hay đã qua đời, hiện tình của trần thế và vinh quang thiên quốc. Vì ở đây, có một
con người được nâng lên giữa lòng cộng đoàn của những kẻ được thánh hóa và cứu
chuộc. Vị ấy được chính Đức Ki-tô ủy thác và trao cho quyền đến từ trời chứ
không phải từ đất, quyền đến từ ngai tòa ân sủng của Thiên Chúa. Đến lượt mình,
cộng đoàn dâng chính Đấng hiện hữu giữa họ nhờ qua lời của linh mục, – Đấng hiện
thân làm hy lễ của toàn thể Giáo Hội, lên Thiên Chúa Cha muôn thuở; ngõ hầu ngợi
khen danh thánh Người và mang lại ơn cứu độ cho tất cả những ai dâng hy lễ ấy
và cho những ai, nhờ lễ tế ấy, được cầu nguyện cho, trong đức ái và tin tưởng.
Được ủy thác bởi Đức Ki-tô và qua Đức Ki-tô, Đấng yêu thương Hội Thánh và hiến
mình cho Hội Thánh, vị linh mục được phép dâng lễ tế hòa giải muôn đời nhân danh
tất cả, cùng với tất cả và cho tất cả. Nếu nhờ qua ơn gọi này mà vị linh mục được
đặt để cao hơn những người khác trong cộng đồng dân Chúa, thì cũng chính vị
linh mục sẽ bị thiêu đốt và vắt kiệt cho sứ mạng phục vụ tinh ròng của mình,
trong Chúa và cho con người. Trong giờ thánh lễ tạ ơn ấy, tân linh mục được
phép cầm lấy Mình và chén Máu của Đức Chúa, đổ ra làm giá chuộc cho muôn người.
Vị linh mục cử hành thánh lễ ấy, không để mình được nêu cao, nhưng nhờ thánh lễ,
ơn cứu độ được tuôn chảy đến mọi tâm hồn tín hữu. Điều mà tân linh mục cử hành
trong thánh lễ đầu tiên ấy, giữa niềm vui của mọi người, vị ấy cũng sẽ làm như
thế trong mọi ngày còn lại. Cử hành thánh lễ trong những ngày của thời còn trẻ,
của những ngày già nua cuối đời, trong tinh sương của một ngày thường nhật, và
cả trong những giây phút đáng sợ của đời mình, những giây phút mà không ai
tránh được. Giây phút truyền phép nhỏ bé và đơn sơn ấy sẽ luôn chứa đựng nội
dung và lời giải cho mọi khúc mắc, bất trắc và mọi cảnh huống của cuộc sống:
này là Mình Thầy, bị nộp vì anh em; này là Máu Thầy, đổ ra để tha thứ mọi lỗi lầm
con người. Tất cả đều được hàm chứa trong một phần tư giờ ấy, vì trong giờ ấy
có sự hiện diện của Đấng tự hiến và đấng hiển thắng, Đấng là sự hiệp nhất giữa
câu hỏi và câu trả lời, sự hiệp nhất giữa đất và trời, giữa con người và Thiên
Chúa,- Đấng ngay chính trong khoảnh khắc duy nhất của Thập Giá đã biến sự xa
cách giữa Thiên Chúa và con người thành mối tâm giao không hề chia cắt được.
Linh mục là một phàm nhân,
sứ giả của chân lý Thiên Chúa, người chia sẻ mầu nhiệm thần linh, tác viên hiện
thực hóa hy lễ duy nhất là Đức Ki-tô. Ôi phần số hồng phúc!
Mỗi con người chắc chắn
mang nơi mình ơn gọi. Ơn gọi ấy được thiết lập từ muôn thuở và được ủy thác thực
hiện trong thân thể của Đức Ki-tô là Hội Thánh. Suy cho cùng, không hề có một
hiện hữu nào là hoàn toàn thế tục. Tuy nhiên, đối với nhiều người, những thực tại
Thiên Chúa hiện diện sâu thẳm trong lương tâm cũng như kinh nghiệm vô ngôn về
siêu việt của họ là chuyện riêng tư mỗi người, thì nơi con người linh mục, kẻ
được Thiên Chúa kêu gọi, những điều ấy vụt bay lên từ cõi sâu thẳm và ôm trọn
cuộc đời của người. Thiên Chúa sẽ sử dụng trọn cuộc đời ấy như lễ toàn thiêu hoặc
sẽ thôi thúc cuộc đời ấy để phục vụ sứ mệnh cao cả Người trao. Đó là vận mệnh của
linh mục: sống trọn vẹn sự thân mật với Thiên Chúa. Một vận mệnh thánh thiêng
nhưng đồng thời đáng sợ! Thánh thiêng bởi chỉ mình Chúa là đấng thánh, đáng sợ
vì con người làm sao đứng vững được trước Thánh Nhan uy linh của Thiên Chúa. Sẽ
không có gì lạ nếu biết rằng những điều được thiết kế tối ưu, hoàn hảo thì chỉ
thành công ở mức cục bộ. Sẽ chẳng ngạc nhiên nếu một ơn gọi càng cao thì mang
trong mình nguy cơ đổ vỡ trầm trọng hơn. Nguy cơ của việc không còn nhận ra
mình là người phàm nữa, nguy cơ của sự vô cảm với người khác, của việc làm cho
bản chất nhân sinh của mình ra chai đá, của việc thích tìm nương tựa nơi người
phàm mà quay lưng lại với Thiên Chúa, nguy cơ của những thỏa hiệp đáng tiếc,
nguy cơ của một cuộc sống quá tải nên để mình rơi vào cung cách hành xử tầm thường.
Nếu cân nhắc sứ mạng thánh thiêng và đáng sợ của đời linh mục, người ta sẽ rùng
mình thinh lặng hiểu rằng, vào ngày lễ tạ ơn ấy, đã thực sự khởi đầu điều mà
không một phàm nhân nào có thể chu toàn nỗi. Nhưng ân sủng của Thiên Chúa sẽ ủi
an chúng ta. Chính ân sủng chứ không phải chúng ta sẽ hoàn tất điều mà ân sủng
đã khởi sự. Bởi Đấng đã kêu gọi vị linh mục là Đấng thành tín và ân sủng đã ban
ra, và ơn ấy sẽ không bao giờ bị thu hồi. Dẫu thế, trong thánh lễ dâng hy tế đầu
tiên ấy, chúng ta vẫn cần cầu nguyện cho Giáo Hội trần thế, để Thiên Chúa sai
thợ đi vào cánh đồng của Người, vì thợ gặt thì ít. Chúng ta cũng cần cầu nguyện
cho các linh mục, để họ bắt đầu tác vụ của mình trong kính sợ và hân hoan,
trung tín trong tác vụ cho đến giây phút thánh thiêng cuối cùng, lúc mà tất cả
mọi ơn gọi đều đi vào hồi kết ân phúc và độc nhất, trong hy lễ bất tận vượt thời
gian, lúc mà Người Con và tất cả chúng ta dâng tất cả lên Cha, để Thiên Chúa là
tất cả trong mọi sự. Amen.
No comments:
Post a Comment