Bởi lẽ Thiên Chúa tạo dựng con người
theo hình ảnh Ngài, và đặt vào trong tâm khảm mỗi người lòng khao khát tìm kiếm
những điều thiện hảo, nên tự bản chất con người luôn thao thức theo đuổi khát vọng
tìm gặp Thiên Chúa như Thánh Vịnh đã lột tả “Suốt đêm trường hồn con khao khát Chúa, trong thâm tâm những kiếm tìm
khắc khoải”[1].
Trải qua dòng thời gian, với những nỗ lực của trí tuệ, sự ngay thẳng của ý chí và đức tin vững mạnh, lời mời gọi ấy ngày càng được tỏ lộ rõ ràng qua những biến cố trong cựu ước, và mạc khải trở nên trọn vẹn qua Đức Giêsu. Sau khi được Moses, nhờ bàn tay Thiên Chúa quyền năng, dẫn dắt ra khỏi Ai Cập, dân Israel đã tụ họp dưới chân núi Sinai để tuyên xưng Thiên Chúa quyền năng duy nhất, và được nghe huấn dụ của Ngài: “Nghe đây, hỡi Ít-ra-en! ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa chúng ta, là ĐỨC CHÚA duy nhất. Hãy yêu mến ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em. Những lời này tôi truyền cho anh em hôm nay, anh em phải ghi tạc vào lòng. Anh em phải lặp lại những lời ấy cho con cái, phải nói lại cho chúng, lúc ngồi trong nhà cũng như lúc đi đường, khi đi ngủ cũng như khi thức dậy, phải buộc những lời ấy vào tay làm dấu, mang trên trán làm phù hiệu”[2].
Trải qua dòng thời gian, với những nỗ lực của trí tuệ, sự ngay thẳng của ý chí và đức tin vững mạnh, lời mời gọi ấy ngày càng được tỏ lộ rõ ràng qua những biến cố trong cựu ước, và mạc khải trở nên trọn vẹn qua Đức Giêsu. Sau khi được Moses, nhờ bàn tay Thiên Chúa quyền năng, dẫn dắt ra khỏi Ai Cập, dân Israel đã tụ họp dưới chân núi Sinai để tuyên xưng Thiên Chúa quyền năng duy nhất, và được nghe huấn dụ của Ngài: “Nghe đây, hỡi Ít-ra-en! ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa chúng ta, là ĐỨC CHÚA duy nhất. Hãy yêu mến ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em. Những lời này tôi truyền cho anh em hôm nay, anh em phải ghi tạc vào lòng. Anh em phải lặp lại những lời ấy cho con cái, phải nói lại cho chúng, lúc ngồi trong nhà cũng như lúc đi đường, khi đi ngủ cũng như khi thức dậy, phải buộc những lời ấy vào tay làm dấu, mang trên trán làm phù hiệu”[2].
Lời giáo huấn trên hàm chứa những
điều làm nên nền tảng của đức tin Hội Thánh Công Giáo và được truyền dạy cho tới
ngày nay. “Chúa là Thiên Chúa chúng ta,
là Chúa duy nhất” – một lời tuyên xưng Thiên Chúa duy nhất toàn năng; “Hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết
lòng, hết linh hồn và hết sức anh em” – đây cũng chính là lời mời gọi người
môn đệ tiến sâu vào trong tương quan với Thiên Chúa; “phải lặp lại những lời ấy cho con cái, phải nói lại cho chúng, lúc ngồi
trong nhà cũng như lúc đi đường, khi đi ngủ cũng như khi thức dậy phải buộc những
lời ấy vào tay làm dấu, mang trên trán làm phù hiệu” – một lời răn dạy, hay
cũng chính là nền tảng của việc dạy giáo lý, cách lưu truyền mạc khải và nền phụng
tự hiện nay.
“Đức Chúa là Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất”, đó chính là
lời xác quyết đầu tiên của bản tuyên xưng đức tin và cũng là điều quan trọng nhất,
bởi lẽ những phần sau đó đều nhằm giải thích điều xác quyết này. Đây cũng chính
là lời, mà từ đó, tất cả những mạc khải của Thiên Chúa cho nhân loại sau này đều
quy hướng tới qua dân Israel. Chính Chúa Giêsu cũng quả quyết rằng Thiên Chúa
là “Chúa Duy Nhất”, và ta phải yêu mến Ngài hết lòng, hết linh hồn và hết trí lực
ta[3],
đây cũng chính là nét đặc thù và là nền tảng của đức tin Kitô giáo. “Chúng tôi tin cách vững vàng và tuyên xưng
cách đơn sơ rằng chỉ có một Thiên Chúa chân thật, vĩnh cửu, vô hạn và bất biến”[4].
Cũng chính từ lời xác quyết này, Thiên Chúa đã tự mạc khải cho loài người biết
Danh Ngài, chính từ đây, loài người có cơ hội được nhận biết cách tỏ tường hơn,
có thể tiếp xúc, hiểu biết thân mật và thật sự có thể tuyên xưng, gọi Thiên
Chúa một cách cá vị hơn. Khởi phát từ chính việc tuyên xưng, nhận biết và đặt
niềm tin vào Thiên Chúa, con người có cơ hội được nhận biết sự vĩ đại và quyền
năng của Thiên Chúa, được sống trong tâm tình cảm tạ, và nhận biết được phẩm
giá đích thực và lời mời gọi tha thiết trở nên một với Thiên Chúa[5].
Đức tin vào Thiên Chúa là Đấng toàn
năng duy nhất cũng chính là xác tín rằng Ngài chính là cội nguồn mọi sự, là Đấng
Tạo Hóa và mọi vật đều là thụ tạo trong tay Ngài. Và công trình tạo dựng là nền
tảng liên quan đến mọi sáng kiến cứu độ của Thiên Chúa.
“Hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết sức anh
em”. Theo dòng lịch sử, Israel đã có thể khám phá ra rằng Thiên Chúa chỉ có
một động lực duy nhất khiến Ngài tự mạc khải cho họ và chọn họ giữa mọi chư dân
để họ là dân của Ngài và nhờ họ mà muôn dân được chúc phúc là tình yêu nhưng
không của Ngài. Chính nhờ học hỏi và đào sâu trong lịch sử cứu độ, chúng ta
khám phá ra rằng, cũng vì tình yêu mà Thiên Chúa đã không ngừng giải cứu, thứ
tha cho sự bất trung và lỗi phạm của mình. Tình yêu này được ví như tình yêu của
một người cha đối với con mình, “cho
chúng ta thành nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô”[6].
Hay khi chúng ta nhận biết Ngài là Đấng duy nhất, thì chúng có là gì, và có gì,
đều là bởi Ngài: “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh?”[7],
và khi ấy chúng ta biết sống trong tâm tình cảm tạ Thiên Chúa.
“Phải lặp lại những lời ấy cho con cái, phải nói lại cho chúng, lúc ngồi
trong nhà cũng như lúc đi đường, khi đi ngủ cũng như khi thức dậy phải buộc những
lời ấy vào tay làm dấu, mang trên trán làm phù hiệu” – một lời răn dạy, hay cũng chính
là nền tảng của việc dạy giáo lý hiện nay hay cũng chính là việc lưu truyền đức
tin của Hội Thánh. Việc dạy giáo lý là hết sức quan trọng, bởi lẽ nó liên quan
đến chính nền tảng của cuộc sống làm người và làm Kitô hữu: vì nó là phương
cách đem lại lời phúc đáp minh nhiên nhất của đức tin Kitô giáo cho câu hỏi căn
bản mà con người của mọi thời đại vẫn thao thức: “chúng ta từ đâu tới?”, “chúng
ta đi về đâu?”, “Nguồn gốc của chúng ta là gì?”, “cùng đích của chúng ta là
gì?”[8].
“Buộc những lời ấy vào tay làm dấu, mang trên trán làm phù hiệu” – những lời
này cũng chính là sự hướng dẫn sơ khởi để hình thành nên nền phụng tự nhằm giúp
chúng ta tiếp cận được “thực tại” mà chính đức tin đưa đẩy chúng ta đụng chạm tới,
hay cũng nhờ đó, chúng ta được thấm nhuần và sống đức tin ấy mỗi ngày một hơn –
đó chính là cách Hội Thánh ghi nhớ Lời và lưu truyền từ đời này cho tới đời
kia. Cũng như người mẹ dạy con mình nói, kể con mình nghe lại công trình tạo dựng
và niềm xác tin vào Thiên Chúa duy nhất, Hội Thánh, Mẹ chúng ta cũng dạy chúng
ta ngôn ngữ đức tin để dẫn dắt chúng ta hiểu biết và sống đức tin cách sâu sắc
hơn[9]
như Lời đã phán. Khởi phát từ những lời giáo huấn này, Thiên Chúa muốn cho mọi
người được ơn cứu độ và nhận biết chân lý, hay cách trọn vẹn hơn, là nhận biết
Đức Kitô Giêsu và cũng là lời mời gọi liên lỉ: “Những gì Thiên Chúa đã mạc khải
để cứu rỗi muôn dân, Ngài dã ân cần sắp đặt để luôn được bảo toàn và lưu truyền
nguyên vẹn cho mọi thế hệ”[10].
Lời giáo huấn tại núi Sinai chính
là khởi điểm quan trọng đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử nhân loại khi một dân
tộc đại diện cho mọi dân tộc chân nhận Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng Duy Nhất và
xác tín vào quyền năng vô biên của Ngài, để từ đó, con người từng bước đi tới
tương quan thiết thân hơn với Thiên Chúa qua đỉnh cao của mạc khải là Đức
Giêsu.
No comments:
Post a Comment