Khi dựng nên con người, Thiên Chúa
đã trao ban cho con người những điều cao cả, là được trở nên như cách thế biểu
dương vinh quang, là phương thế biểu lộ hình ảnh Thiên Chúa thông qua dấu chỉ
tuyệt hảo, đó là sự tự do. Bởi lẽ tự do bắt nguồn từ lý trí và ý chí, là khả
năng có thể tự mình làm những hành động có ý thức, tự mình quyết định về chính
bản thân, hay khác đi là khả năng lựa chọn làm việc này hoặc việc khác[1].
Điều này có nghĩa là con người có thể tiến tới sự trọn hảo hoặc có thể sai lỗi
và phạm tội, và quả thật, con người đã sa ngã[2].
Khi từ chối kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa, con người đã tự lừa dối mình;
và trở thành nô lệ của tội lỗi.
Tội là một lỗi phạm đối nghịch với
lý trí, chân lý, lương tâm ngay thẳng; tội là sự thiếu vắng tình yêu đích thực
đối với Thiên Chúa và đối với người lân cận, vì những sự quyến luyến lệch lạc.
Tội làm tổn thương bản tính con người và vi phạm đến tình liên đới nhân loại.
Trầm trọng hơn, tội là sự xúc phạm đến Thiên Chúa, chống lại tình yêu của Thiên
Chúa đối với chúng ta và đưa chúng ta lìa xa khỏi tình yêu đó. Sau khi phạm tội,
Adam đã đem vào thế giới những bệnh hoạn, sa đọa, chiến tranh, đói nghèo, những
nấm mồ, những bào thai bị ném vào thùng rác, những tiếng khóc nức nở triền miên
bắt đầu từ tiếng khóc của Evà ôm trên tay xác Abel chết đẫm máu vì sự ghen
tương của Cain - "Hậu quả của tội lỗi
là sự chết"[3]. Nhưng
Thánh Phaolo đã quả quyết: “Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa
chan gấp bội”[4]. Cố
nhiên, để thực hiện công trình của mình, ân sủng phải vạch trần tội lỗi nhằm hối
cái trái tim chúng ta và làm cho chúng ta “nên công chính”. Sự hối cái ấy đòi
buộc ta phải xác tín về tội lỗi; nó bao hàm một phán đoán từ bên trong của
lương tâm, và điều này là bằng chứng về sự hành động của Thần chân lý trong hữu
thể thẳm sâu của con người, và đồng thời cũng là khởi điểm của việc ban tặng mới
của ân sủng và tình yêu.
Việc công khai cái xấu của mình là
điều không ai muốn thực hiện, nên tội lỗi tự nó đã là một vấn nạn nhức nhối và
khiến ta không hề dễ chịu khi nói về, bởi lẽ bản thân ta mang trong mình những
tội lỗi đầy gớm ghiếc. Và khi nói về tội lỗi, tôi không thể không nhìn lại bản
thân tôi với những khi nuông chiều bản thân để sa chân vào đàng tội lỗi, những
khi không thể chống lại được những cơn cám dỗ dục vọng, những xúc cảm giận ghét
người khác, hay việc phân biệt đối xử cũng khiến tôi có thêm những cái nhìn đầy
tội lỗi về người khác. Và những khi ấy tôi viện đủ mọi lý do có thể để ngụy biện
cho những lỗi phạm mình gặp phải, “ai cũng làm vậy, tôi làm vậy thì có sao
đâu”, “hoàn cảnh nó thế rồi, tôi có làm khác đi được chăng”,… Dường như xã hội
càng hiện đại, được tiếp cận với nhiều thứ mới mẻ, với nhiều học thuyết, lý luận,
với nhiều môn khoa học tiên tiến, với khuynh hướng truyền thông, tâm lý,… đã
khiến cảm thức tội lỗi của mình bị giảm đi. Tất cả những kinh nghiệm ấy dường như
là hồi chuông cảnh tỉnh về cảm thức tội lỗi của tôi. Khi ý thức được điều này,
tôi đã tìm kiếm những phương thế để phục hồi lại cảm thức nguyên thủy về tội lỗi
của mình bằng cách gặt hái sự chữa lành từ Thánh Lễ, Thánh Thể, và cầu nguyện,
sám hối. Như vậy, cũng như thầy thuốc hỏi và xem xét chi tiết vết thương trước
khi chữa lành nó, Thiên Chúa, nhờ Ngôi Lời và Thần Khí, cần ta phải xác tín và “sám
hối” để từ đó soi dọi ánh sáng sống động vào tội lỗi.